Chuyển đến nội dung chính

Hình tượng nghệ sỹ

Văn chương luôn đi với nghệ thuật chủ yếu vì lý do chúng sinh ra để làm bạn đểu của nhau.

Nghệ thuật: người ta có khoái cảm khi người ta thấy mình nghĩ hoặc quan tâm hoặc nói về nghệ thuật, nhiều hơn là vì chính nghệ thuật. Khoái cảm này bao gồm hỗn hợp của vui vẻ, khoan khoái, yên tâm về đời mình, và một phần rất nhỏ, một vi tố tâm lý luôn mai phục sẵn đấy là: thấy mình xịn sò, cao cấp ( so với người khác và so với tôi của mọi ngày)




Có ai làm một thống kê này không: hơn ba phần tư (tính trong mẫu không gian mà tôi từng đọc - chủ yếu là Văn học trẻ) các tác phẩm đầu tay, kiểu gì cũng có nhân vật họa sỹ hoặc nghệ sỹ. Nhất là khi người viết ở tuổi đôi mươi. Tuổi đôi mươi: người ta hay ngạc nhiên vì cái khí phát ra từ hình tượng nghệ sỹ. Nếu không thể trở thành nghệ sỹ, người ta nhất quyết gần gũi nghệ sỹ. Đúng, gần gũi nghệ sỹ còn khoái hơn trở thành nghệ sỹ, dễ hơn nữa.

Nhưng gần gũi mà không trở thành thì sẽ đi đến đâu? Sẽ đi đến chỗ phải bỏ rất nhiều tiền mua quyển Story of Art, hoặc dù đã trở thành một dạng khác (đạo diễn, nhà báo, nhà văn, nhà phê bình - nhưng nhất là đạo diễn) nhưng vẫn mơ làm nghệ sỹ.
 
Nghệ sỹ ở dạng cơ bản (có tài năng nghệ thuật) thì là idol của bình dân, từ đó chúng ta có karaoke, các lớp học vẽ học đàn cho con cái. Nghệ sỹ ở dạng cao cấp, lại còn dấn thân, bất cần và biết tuyên bố một chút, chính là idol của mọi idol.
 
Thế nên mới có nhiều đạo diễn cứ đi nhấn mạnh là tôi làm phim oneshot, kỳ công lắm, dấn thân ra phết đấy, nghệ thuật lắm. Trong khoảnh khắc mơ mộng, họ quên rằng đạo diễn là đạo diễn.
--------------------
Nghệ sỹ là một giấc mơ: nghệ sỹ và nghệ thuật là hai giấc mơ con của Việt Nam đương đại. Nghĩ đến nghệ sỹ lòng ta trong sáng hơn. Giấc mơ con đè nát cuộc đời con: vì nghệ thuật to đến mức như thế, nên các họa sỹ nhanh nản, vì không chịu được. Sự tôn thờ nghệ thuật ở nơi nơi làm các họa sỹ vốn đã hoang mang, lại còn hoang mang hơn. Thế là các họa sỹ trở nên chửi tục và bất cần. Nhưng thật bất hạnh, càng chửi tục người ta lại càng tưởng thế là tự do đấy!
 
Làm sao để đuổi tất cả sự lâu nhâu, những tiếng ong rừng bên trong và bên ngoài người nghệ sỹ? Khó đấy. Thế nên các họa sỹ bèn triển lãm, chủ yếu để đánh lạc hướng: các ông nhìn tác phẩm đi đừng nhìn tôi. Ở một triển lãm, những kẻ tinh ý nhất là những kẻ bắt được các khoảnh khắc của nghệ sỹ. Thường là khoảnh khắc căm ghét cái xã hội này. (Tất nhiên, ai tinh ý ở đây ạ? Lại là thằng bạn đểu).
----------------
Gần đây tôi phát hiện nghệ sỹ cứ đi ra đi vào liên tục như trẩy hội trong các sách truyện mình đọc. Văn chương có một tham vọng không bao giờ nhỏ là phải chĩa bút vào nghệ sỹ, làm rõ nó, không cho nó chạy, hoặc mỉa mai nó. Số phận của nghệ thuật là phải chịu đựng văn chương. Đọc liên tiếp "Mùa hè tươi đẹp" của Cesare Pavese và "Người đàn bà trên cầu thang" của Bernard Schlink mới thấy nghệ thuật là cái gai to thế nào trong mắt văn chương.

Somerset Maugham có một truyện, nhân vật chính Maugham phân tích nghệ thuật này nọ với giọng rất thái độ, nhưng toàn bộ các nhân vật phải đầu hàng khi cô ca sỹ cất lời hát. Nghệ thuật lên tiếng thì văn chương im, chúng ta có biết gì mấy về nhau đâu? Đấy là cái lẽ nhường nhịn xuyên suốt các tác phẩm của Maugham.
----------------------

Trong link này là truyện ngắn "Kiệt tác vô danh" (Balzac) bản dịch của Nguyễn Đình Đăng. Tôn trọng dịch giả nhưng tôi có ý kiến ý cò là thật ra dịch như Wiki "Kiệt tác không người biết" thì đúng hơn. "Vô danh" nó khác với "không người biết" - ở chữ "biết". Truyện này bản full phân tích khái niệm Dessin trong hội họa, nhưng thật ra tôi không quan tâm lắm vì tôi thích phần truyện nửa sau hơn. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

[Truyện ngắn] Bạch Đàn - Đức Anh

  Bạch Đàn Truyện ngắn ĐỨC ANH Để tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Anh Quốc  (Đã đăng Viết và Đọc chuyên đề mùa hạ 2021 )   1.    Vào đầu tháng ba năm ấy, tôi mất đi Xuân, người vợ của mình. Đó là vì một vụ hoả hoạn.   Và mãi tận cuối tháng tám năm ấy, tôi mới cho phép nỗi đau của mình, cùng những gì giả vờ nhất và chân thực nhất của nó, lui gót. Tôi bắt đầu kết thúc trạng thái đối phó với những kẻ lăm le động viên, những kẻ lúc nào cũng mang ánh mắt thương cảm lạc quan đến và tạo cho tôi cảm giác tôi đang giả vờ tuyệt vọng. Khi tôi thức dậy thì đã tà chiều, tôi dỡ báo giấy bọc kính cửa, mặt tôi trong kính trông như được tạc trên một cái chuông. Ngoài kia có giông, cây cối nghiêng đi trong trận gió điếc. Và nhờ những tia nắng nhút nhát cuối cùng đậu lại, xuyên qua lớp băng dính đã hết chất keo, căn phòng ánh lên một màu cá kho bóng lưỡng. Khung cảnh ấy hút hồn tôi một lúc lâu, tôi kiếm chiếc ghế và đầu tôi chỉ còn hai ý nghĩ: hoặc tôi sẽ chết, hoặc tôi phải sống kh...

Em còn nhớ hay em đã quên

 Những cuộc nghe nhạc - nhất là (nhưng cũng không hẳn "nhất là") nhạc Trịnh tạo cho cuộc đời những dấu ấn. Không gì giúp người ta ghi nhớ bằng các mốc điểm đã qua trong cuộc đời như là một cuốn tiểu thuyết hay một bản nhạc. Nếu ai không có may mắn ấy, tức đã từng yêu một âm nhạc hoặc đọc những quyển sách, nhất định cuộc đời sẽ rơi vào một cái khung của tiểu sử, sẽ rất dễ cảm thấy đời mình không phải là của mình, mà như là một ai đó đọc từ wikipedia mà ra. (Càng những người ra sức làm Thương hiệu cá nhân, lại càng sống cuộc đời bất định hơn nữa, đến mức tưởng là rất ổn định, thế nên thời đại này người ta rất ham muốn có được cá tính - vẫn quên chưa viết về câu chuyện về cá tính). Một giai điệu cũ bay qua, thế là cả một thời gian sống dậy, tất cả những cảm giác và sự sống ta từng có, ở một buổi sáng hay buổi chiều nọ. Vì cách hành xử của âm nhạc không giống như ngôn ngữ: âm nhạc là thu vào, còn ngôn ngữ là lọc ra. Nhạc Trịnh thì lại rất nhiều dấu mốc: một đêm, một hôm, một ngà...

Lê Tuyên trong cái nhìn mơ mộng - Trịnh Nữ

  Trịnh Nữ NGUYỄN MẠNH TIẾN [Diễn giải về phê bình hiện tượng học văn học Lê Tuyên] Nhà nghiên cứu phê bình Lê Tuyên - Ảnh tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân Tóm tắt: Ngày nay nhìn lại, chúng ta thừa nhận, ngay từ những năm 60 thế kỷ trước, Lê Tuyên qua hàng loạt những nghiên cứu, phê bình xuất sắc, mang chiều sâu triết học văn học về ca dao, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Tú Xương, Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm… đã dịch chuyển thành công phê bình văn học vào hệ hình hiện đại. Lê Tuyên với phương pháp phê bình hiện tượng học văn học và phê bình phân tâm học văn bản kiểu Bachelard đã lấy văn bản làm trung tâm của hoạt động diễn giải văn học.  Thế nhưng, thật kỳ lạ, di sản phê bình văn học của Lê Tuyên, cũng như của phương pháp phê bình hiện tượng học văn học tại Việt Nam, lại hoàn toàn bị chìm trong quên lãng. Cái tên Lê Tuyên, và hơn thế, tầm quan trọng của phương pháp phê bình hiện tượng học, có thể nói không ngoa, đã bị lịch sử của ...